Điều trị
  • Phòng khám 589 - Dịch vụ y tế uy tín hàng đầu tại Hà Nội !
Phòng khám Đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám Cơ sở y tế 098 934 2415
  • Khám và điều trị bệnh tại nhà
  • Đốt trĩ cao tần HCPT
  • Điều trị thoát vị đĩa đệm
  • Giảm 30% Gói khám sức khỏe định kỳ tổng quát
  • Điều trị bệnh lậu
1 2 3 4 5

Sotalol - Tương Tác Thuốc

Đánh giá bài này
(0 bình chọn)


Là thuốc chẹn beta, còn có tác dụng chống loạn nhịp tim
và thuộc nhóm III của Vaugham - Williams

CÁC THUỐC TRONG NHÓM

SOTALOL viên nén 80 mg; 160 mg
Darob viên nén 80 mg; 160 mg
Sotahexal viên nén 80 mg; 160 mg
Sotalex viên nén 80 mg
CHÚ Ý KHI CHỈ ĐỊNH THUỐC

Chống chỉ định: mức độ 4

Người bệnh cao tuổi: Chống chỉ định tuyệt đối ở người bệnh cao tuổi có các hội chứng sau: Bloc nhĩ-thất không lắp máy tạo nhịp, suy tim sung huyết không kiểm soát được, hen, bệnh phổi và phế quản mạn tính nặng có tắc nghẽn, nhịp tim chậm nặng, bệnh Raynaud, sốc do tim, bệnh xoang (nút Keith - Flack), u tế bào ưa crôm không điều trị, huyết áp thấp, đau thắt Prinzmetal.
Các trường hợp khác: Tăng huyết áp do u tế bào ưa crôm: dùng thuốc phải thận trọng. Quá mẫn với các thuốc chẹn beta.

Cân nhắc lợi ích/ nguy cơ: mức độ 3

Thời kỳ cho con bú: Thuốc qua được sữa mẹ. Tránh sử dụng
Suy tim: Tất cả các thuốc chẹn beta đều làm giảm tần số và lưu lượng tim. Điều này là nguồn gốc của nhiều tai biến tim mạch (nhịp tim quá chậm, lạnh các đầu chi, mất bù ở trường hợp suy tim, suy tim sung huyết), nói chung có liên quan đến bệnh tim đã có.
Suy hô hấp, hen: Nguy cơ cơn hen nặng ở người có tố bẩm. Cần theo dõi người bệnh viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn.
Các trường hợp khác: Bloc-nhĩ thất không lắp máy tạo nhịp, suy tim sung huyết không kiểm soát được, nhịp tim chậm nặng, bệnh Raynaud, sốc do tim, bệnh xoang (nút Keith – Flack), u tế bào ưa crôm không điều trị, hạ huyết áp, đau thắt Prinzmetal.

Thận trọng khi dùng: mức độ 2

Suy thận: Nửa đời của thuốc chẹn beta bị kéo dài, nhất là khi thuốc chuyển hoá chậm và đào thải qua thận, như trường hợp này. Hiệu chỉnh lại liều lượng cho thích hợp.

Cần theo dõi: mức độ 1

Tiểu đường: Các thuốc chẹn beta che lấp các dấu hiệu hạ glucose máu (trừ đôi khi toát mồ hôi). Đã thấy những tai biến nghiêm trọng kèm theo hôn mê ở người bệnh tiểu đường điều trị bằng các thuốc uống hạ glucose máu hay bằng insulin.
Thời kỳ mang thai: Các thuốc chẹn beta hình như không gây quái thai và có thể dùng điều trị tăng huyết áp do mang thai. Hiếm có tai biến cho thai nhi (nhịp tim chậm, suy dinh dưỡng, hạ glucose máu) do gan chưa trưởng thành.
TƯƠNG TÁC THUỐC

Phối hợp nguy hiểm: mức độ 4

Benzamid

Phân tích: Trong nhóm benzamid, chỉ có sultoprid (Barnetil*) có thể gây nguy cơ. Tất cả các thuốc có tác dụng hướng cơ âm tính (chất gây chậm nhịp tim) có thể làm tăng nguy cơ loạn nhịp thất, đặc biệt xoắn đỉnh do cộng thêm các tính chất điện sinh lý của sultoprid.
Xử lý: Chống chỉ định và phải cấm phối hợp thuốc này.
Bretylium; vincamin
Phân tích: Tăng nguy cơ xoắn đỉnh do tác dụng hiệp đồng. Hạ kali máu, nhịp tim chậm, và khoảng QT dài có từ trước (chỉ có thể thấy trên điện tâm đồ) là những yếu tố thuận lợi cho xuất hiện các xoắn đỉnh.
Xử lý: Chống chỉ định và không được kê đơn phối hợp thuốc có khả năng gây tử vong này.
Cisaprid
Phân tích: Kết hợp với sotalol hay nhiều thuốc chống loạn nhịp khác có thể tăng nguy cơ loạn nhịp tim đe doạ tính mạng, bao gồm xoắn đỉnh. Nguyên nhân có thể do hiệp đồng kéo dài khoảng QT.
Xử lý: Chống chỉ định dùng cisaprid cho người bệnh đang dùng các thuốc chống loạn nhịp loại Ia và III.
Chất cản quang có iod
Phân tích: Nếu gặp dị ứng, các chất chẹn beta (kể cả dạng thuốc nhỏ mắt) làm giảm bù tim mạch, đặc biệt trong trường hợp hạ huyết áp hay sốc. Sự tiết adrenalin cho phép cơ thể có một đáp ứng sinh lý bình thường trong trường hợp sốc phản vệ. Chính đáp ứng này đã bị phong bế.
Xử lý: Hỏi tiền sử bệnh tật. Có phải đây là lần đầu mà người bệnh được dùng thuốc cản quang có iod. Khi bị sốc, cơ chế bù bị giảm có thể nguy hiểm, và phải chống chỉ định phối hợp này. Không kê đơn cho những người bệnh có tiền sử dị ứng.
Floctafenin
Phân tích: Nếu có phản ứng dị ứng, các chất chẹn beta làm giảm bù tim mạch, đặc biệt trong trường hợp hạ huyết áp hay sốc.
Xử lý: Hỏi tiền sử bệnh tật. Có phải đây là lần đầu mà người bệnh dùng floctafenin không. Trong trường hợp sốc, sự giảm cơ chế bù có thể nguy hiểm, và phải chống chỉ định phối hợp thuốc này. Không xử lý cho người bệnh có tiền sử dị ứng.
Kháng histamin H1 không an thần
Phân tích: Tương tác này chỉ mới được mô tả với astemizol (Hismanal*), là kháng histamin H1 được coi là không có tính chất an thần: tăng nguy cơ xuất hiện xoắn đỉnh.
Xử lý: Chống chỉ định phối hợp các thuốc này. Chọn một kháng histamin không có tác dụng an thần khác, không gây xoắn đỉnh (cetirizin, loratadin).
Macrolid
Phân tích: Tăng nguy cơ xoắn đỉnh do tác dụng hiệp đồng. Vấn đề này chỉ được mô tả với erythromycin tiêm tĩnh mạch. Hạ kali máu, nhịp tim chậm và khoảng QT dài có từ trước (chỉ nhận thấy trên điện tâm đồ) là những yếu tố thuận lợi cho xuất hiện xoắn đỉnh. Trong nhóm macrolid, chỉ có erythromycin, đặc biệt dưới dạng tiêm tĩnh mạch là có thể gây rối loạn nhịp tim (kéo dài khoảng QT, ngoại tâm thu thất, xoắn đỉnh, bloc nhĩ-thất).
Xử lý: Chống chỉ định và không được kê đơn phối hợp thuốc có tiềm năng gây tử vong này. Ngay khi dùng đơn độc, erythromycin tiêm tĩnh mạch cũng có thể gây loạn nhịp tim. Không nên tiêm thuốc nhanh, mà phải truyền tĩnh mạch nhỏ giọt liên tục hay cách quãng, thời gian truyền thuốc mỗi lần phải kéo dài ít nhất 60 phút.
Sparfloxacin
Phân tích: Tăng nguy cơ xoắn đỉnh.
Xử lý: Chống chỉ định phối hợp này. Cần chọn hoặc một fluoroquinolon khác, hoặc một thuốc khác, tùy theo mục đích điều trị. Nếu phối hợp thuốc này tuyệt đối cần thiết, bắt buộc phải theo dõi điện tâm đồ và lâm sàng, đặc biệt chú ý người có tố bẩm cùng với khoảng QT dài.
Thuốc cường giao cảm beta
Phân tích: Phối hợp thuốc không hợp lý. Đối kháng dược lý, dùng trong trường hợp quá liều các thuốc chẹn beta. Cũng thấy tương tác này khi dùng thuốc nhỏ mắt có chứa các thuốc chẹn beta.
Xử lý: Chỉ có thể quản lý được phối hợp này tại bệnh viện, có lưu ý phân biệt các thuốc chẹn beta có hoạt tính cường giao cảm với các thuốc chẹn beta không có hoạt tính cường giao cảm.
Ziprasidon
Phân tích: Kết hợp với sotalol hay nhiều thuốc chống loạn nhịp khác, tăng nguy cơ loạn nhịp tim đe doạ tính mạng, bao gồm xoắn đỉnh. Có thể do hiệp đồng kéo dài khoảng QT.
Xử lý: Chống chỉ định ziprasidon với người bệnh dùng sotalol hay nhiều thuốc chống loạn nhịp khác.

Cân nhắc nguy cơ/ lợi ích: mức độ 3

Amiodaron
Phân tích: Amiodaron làm nặng thêm chứng nhịp tim chậm do thuốc chẹn beta gây ra. Có thể xuất hiện rối loạn nhịp xoang và bloc nhĩ-thất, đặc biệt với những người bệnh có tiền sử rối loạn nhịp xoang.
Xử lý: Nếu buộc phải phối hợp thuốc, điều quan trọng là phải giảm liều và theo dõi điện tâm đồ. Cần nhớ là amiodaron có nửa đời là 28 ngày, nên tác dụng của tương tác có thể tồn tại nhiều tuần sau khi ngừng điều trị.
Corticoid khoáng
Phân tích: Nguy cơ xoắn đỉnh khi dùng phối hợp thuốc này. Hạ kali máu, nhịp tim chậm và khoảng QT dài có từ trước (chỉ nhận thấy trên điện tâm đồ) là những yếu tố tạo điều kiện xuất hiện xoắn đỉnh.
Xử lý: Cần tránh phối hợp này, và dùng những thuốc không gây xoắn đỉnh. Nếu cần phối hợp thuốc này, phải theo dõi liên tục khoảng QT và định lượng đều đặn kali máu. Cần chú ý đến các dấu hiệu lâm sàng báo trước giảm kali máu như mệt mỏi, yếu cơ, chuột rút.
Flecainid hoặc thuốc tương tự; propafenon
Phân tích: Phối hợp các thuốc chống loạn nhịp thuộc các nhóm khác nhau có thể dẫn tới tăng nguy cơ tác dụng phụ về tim (ở khâu tính tự động, dẫn truyền tim, nhịp tim và tính hướng cơ).
Xử lý: Theo dõi chặt chẽ lâm sàng và điện tâm đồ.
Guanethidin hoặc thuốc tương tự
Phân tích: Guanethidin là chất phong bế giải phóng noradrenalin ở
sau hạch. Tất cả các chất có tính chất chẹn alpha, chẹn beta, nếu phối hợp với guanethidin, có thể làm tăng xuất hiện hạ huyết áp thế đứng và nhịp tim chậm.
Xử lý: Tăng cường theo dõi huyết áp. Nhấn mạnh đến việc tuân thủ điều trị, giờ giấc uống thuốc, từ khi bắt đầu dùng phối hợp hai thuốc. Cần chú ý với người bệnh cao tuổi.
Halofantrin; pentamidin; quinidin hoặc dẫn chất
Phân tích: Dùng phối hợp thuốc này có nguy cơ xuất hiện các xoắn đỉnh, nhất là khi hạ kali máu. Hạ kali máu, nhịp tim chậm và khoảng QT dài có từ trước (chỉ thấy trên điện tâm đồ) là những yếu tố thuận lợi cho xuất hiện xoắn đỉnh.
Xử lý: Nên tránh phối hợp thuốc này, và dùng những thuốc không gây xoắn đỉnh. Nếu cần phối hợp thuốc này, phải theo dõi liên tục (khoảng QT và định lượng đều đặn kali máu). Có thể có các dấu hiệu báo trước hạ kali máu như mệt mỏi, yếu cơ, chuột rút.
Prazosin
Phân tích: Kết hợp với sotalol hay nhiều thuốc chẹn beta khác, nguy cơ hạ huyết áp thế đứng sẽ tăng. Cơ chế còn chưa rõ.
Xử lý: Cần cảnh báo cho người bệnh biết là có thể xuất hiện các triệu chứng hạ huyết áp thế đứng ở những thời gian đầu khi kết hợp thuốc.
Reserpin
Phân tích: Sự giảm sút catecholamin do reserpin gây ra có thể làm tăng tác dụng của thuốc chẹn beta (nhịp tim chậm và hạ huyết áp).
Xử lý: Tương tác này có thể xảy ra, về mặt dược lý, nhưng chưa được mô tả trên lâm sàng. Phải thận trọng và khi có điều gì bất thường cần thông báo về Trung tâm cảnh giác thuốc.
Thuốc cường giao cảm alpha-beta
Phân tích: Đối kháng dược lý (các thuốc cường giao cảm được dùng trong trường hợp quá liều các thuốc chẹn beta).
Xử lý: Sự đối kháng dược lý này, nếu không được theo dõi liên tục (điện tâm đồ và huyết áp) có thể gây tăng huyết áp, nhịp tim chậm nặng kèm theo sốc tim. Phải lưu ý đến các dạng thuốc (dạng dùng tại chỗ, uống hay tiêm), để đánh giá nguy cơ.

Tương tác cần thận trọng: mức độ 2

Amphotericin B
Phân tích: Nguy cơ xoắn đỉnh khi phối hợp với amphotericin B dưới dạng tiêm. Hạ kali máu, nhịp tim chậm và khoảng QT dài có từ trước (chỉ nhận thấy trên điện tâm đồ) là những yếu tố thuận lợi cho xuất hiện xoắn đỉnh.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc này với amphotericin B tiêm, phải đề phòng giảm kali máu bằng cách tăng cường theo dõi chặt chẽ và kiểm tra điện tâm đồ. Trong trường hợp xuất hiện xoắn đỉnh, không dùng các thuốc chống loạn nhịp. Khuyên người bệnh gặp lại bác sĩ khi thấy mệt mỏi, yếu cơ, chuột rút.
Baclofen
Phân tích: Nguy cơ tăng tác dụng hạ huyết áp.
Xử lý: Theo dõi huyết áp và hiệu chỉnh liều thuốc chống tăng huyết áp trong khi điều trị và sau khi ngừng phối hợp thuốc, đặc biệt thận trọng ở người bệnh cao tuổi.
Bepridil
Phân tích: Vì tác dụng hướng cơ âm tính rõ rệt của các thuốc này, có nguy cơ chậm nhịp tim quá đáng, ngừng xoang, rối loạn dẫn truyền xoang, nhĩ-thất và suy tim.
Xử lý: Chỉ có thể phối hợp thuốc nếu theo dõi được điện tâm đồ đều đặn, đặc biệt ở người bệnh cao tuổi và lúc bắt đầu điều trị. Cần chú ý khi ngừng hai thuốc đối với người bệnh động mạch vành.
Butyrophenon
Phân tích: Tăng tác dụng hạ huyết áp của các thuốc.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, tăng cường theo dõi huyết áp trong khi điều trị và khi ngừng một trong hai thuốc. Có khi phải hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp. Nhấn mạnh kế hoạch điều trị và yêu cầu tuân thủ. Cần đặc biệt thận trọng khi sử dụng ở người bệnh cao tuổi.

Chất chủ vận của morphin
Phân tích: Tăng tác dụng hạ huyết áp và tăng nguy cơ hạ huyết áp thế đứng.
Xử lý: Theo dõi huyết áp suốt thời gian phối hợp thuốc. Tuỳ theo thuốc, hạ huyết áp có thể nặng hay nhẹ. Hiệu chỉnh liều lượng của một hay hai thuốc khi cần. Thiết lập một kế hoạch dùng thuốc đều đặn. Tăng cường theo dõi ở những người bệnh cao tuổi (nguy cơ ngã) và khuyên chuyển dần dần từ tư thế nằm hoặc ngồi sang tư thế đứng, khuyên người bệnh gặp lại bác sĩ để điều chỉnh liều lượng, nếu thấy chóng mặt khi bắt đầu điều trị.
Clonidin hoặc thuốc tương tự; methyldopa
Phân tích: Phối hợp hai thuốc chống tăng huyết áp, một phối hợp có thể thực hiện được về mặt dược lý và điều trị. Cần chú ý sotalol hay được dùng làm thuốc chống loạn nhịp tim hơn là thuốc chống tăng huyết áp.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, phải tăng cường theo dõi huyết áp trong khi điều trị và khi ngừng một trong hai thuốc. Cẩn thận không ngừng đột ngột clonidin, vì nguy cơ tăng áp lực trong sọ và khả năng chảy máu não. Nếu cần, ngừng clonidin rất từ từ. Tiến hành hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp, khi cần. Nhấn mạnh với người bệnh về kế hoạch dùng thuốc và yêu cầu tuân thủ. Cần đặc biệt cảnh giác khi sử dụng ở người bệnh cao tuổi.
Clozapin
Phân tích: Nguy cơ tăng tác dụng hạ huyết áp.
Xử lý: Theo dõi huyết áp, và hiệu chỉnh liều lượng thuốc chống tăng huyết áp trong khi điều trị và sau khi ngừng clozapin.
Dextropropoxyphen
Phân tích: Dextropropoxyphen có tác dụng hạ huyết áp nhẹ. Phối hợp với các thuốc hạ huyết áp khác, sẽ tăng tác dụng hạ huyết áp và tăng nguy cơ hạ huyết áp tư thế đứng.
Xử lý: Cần phải theo dõi huyết áp khi phối hợp thuốc (trong khi điều trị và sau khi ngừng một trong hai thuốc). Hạ huyết áp nặng hay nhẹ tuỳ thuộc thuốc đã dùng. Khi cần, điều chỉnh liều lượng một hoặc hai thuốc cho thích hợp. Lập một kế hoạch dùng thuốc đều đặn. Tăng cường theo dõi khi sử dụng ở người bệnh cao tuổi (nguy cơ ngã), và khuyên nên chuyển dần dần từ tư thế nằm hoặc ngồi sang tư thế đứng. Khuyên người bệnh gặp lại bác sĩ để điều chỉnh liều lượng, khi thấy chóng mặt lúc bắt đầu điều trị.
Diltiazem; verapamil

Phân tích: Vì tác dụng hướng cơ âm tính rõ rệt của các thuốc này, có nguy cơ chậm rõ rệt nhịp tim, ngừng xoang, rối loạn dẫn truyền xoang, nhĩ-thất và suy tim.
Xử lý: Chỉ phối hợp thuốc nếu theo dõi được đều đặn điện tâm đồ, đặc biệt khi dùng ở người bệnh cao tuổi và lúc bắt đầu điều trị. Cần thận trọng khi ngừng hai thuốc ở người bệnh động mạch vành.
Disopyramid
Phân tích: Tăng tác dụng của các thuốc chẹn beta. Nguy cơ xuất hiện rối loạn tính co cơ, làm chậm tần số tim và giảm dẫn truyền tim.
Xử lý: Cần tăng cường theo dõi lâm sàng và theo dõi điện tâm đồ khi phối hợp thuốc.
Ergotamin hoặc dẫn chất
Phân tích: Đây là trường hợp phối hợp hai thuốc co mạch ngoại biên. Phối hợp này gặp trong trường hợp đau nửa đầu dai dẳng. Một số hiếm trường hợp thiếu máu cục bộ ngoại biên nghiêm trọng, kèm theo phải cắt cụt chi đã được mô tả. Cần phải theo dõi thật chặt những phối hợp với propanolol, oxprenolol; methylsergid cũng có thể kể trong số đó.
Xử lý: Có thể thực hiện phối hợp thuốc này, nhưng phải theo dõi lâm sàng, nhất là theo dõi xuất hiện tác dụng phụ lúc bắt đầu và trong những tuần điều trị đầu tiên. Ngừng điều trị ngay lập tức khi thấy bất kỳ dấu hiệu báo động nhỏ nào. Hỏi người bệnh thường xuyên về những cảm giác có thể có ở đầu các chi do tuần hoàn kém.
Furosemid hoặc thuốc tương tự
Phân tích: Nguy cơ xoắn đỉnh khi phối hợp các thuốc này. Hạ kali máu, nhịp tim chậm và khoảng QT dài đã có từ trước (chỉ nhận thấy trên điện tâm đồ) là những yếu tố tạo điều kiện xuất hiện xoắn đỉnh.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, phải đề phòng hạ kali máu thông qua theo dõi chặt chẽ người bệnh, và theo dõi điện tâm đồ. Khi xuất hiện xoắn đỉnh, không dùng thuốc chống loạn nhịp tim. Khuyên người bệnh gặp lại bác sĩ khi thấy mệt mỏi, yếu cơ, chuột rút.
Glucagon
Phân tích: Glucagon làm tăng tần số tim, và tăng tính co cơ tim (điều trị quá liều thuốc chẹn beta). Ngoài ra, đáp ứng tăng glucose máu mong đợi bằng cách điều trị với glucagon sẽ giảm ở người bệnh đang dùng thuốc chẹn beta.
Xử lý: Tất cả phụ thuộc vào mục đích điều trị. Phối hợp thuốc có thể được thực hiện, thậm chí được khuyến nghị trong trường hợp thứ nhất (điều trị quá liều thuốc chẹn beta), nhưng không được khuyến nghị với trường hợp thứ hai.
Glucocorticoid
Phân tích: Nguy cơ xuất hiện xoắn đỉnh khi phối hợp các thuốc này. Hạ kali máu, nhịp tim chậm và khoảng QT dài đã có từ trước (chỉ nhận biết được trên điện tâm đồ) là những yếu tố tạo điều kiện xuất hiện xoắn đỉnh.
Xử lý: Nếu cần phối hợp sotalol với các glucocorticoid, cần dự phòng hạ kali máu thông qua tăng cường theo dõi người bệnh và theo dõi điện tâm đồ. Khi có xoắn đỉnh, không dùng thuốc chống loạn nhịp tim. Khuyên người bệnh gặp lại bác sĩ khi thấy mệt mỏi, yếu cơ, chuột rút.
Glycosid trợ tim
Phân tích: Có thể sử dụng hai thuốc này, nhưng còn tranh cãi tùy theo thuốc chẹn beta được dùng, và sinh lý bệnh học của người bệnh. Tăng nguy cơ nhịp tim chậm. Sotalol là thuốc chẹn beta thường được dùng như thuốc chống loạn nhịp tim.
Xử lý: Phối hợp thuốc này dành cho bác sĩ chuyên khoa trong một số chỉ định rõ ràng, với điều kiện có thể theo dõi được những tác dụng của phối hợp hai thuốc này (điện tâm đồ).
Insulin; sulfamid chống tiểu đường
Phân tích: Thuốc chẹn beta có thể che lấp triệu chứng hạ glucose máu, và làm tăng tác dụng của các sulfamid chống tiểu đường và của insulin trong tiểu đường. Điều này có thể dẫn tới hôn mê hạ glucose máu mà không có những dấu hiệu báo trước.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, thông báo cho người bệnh biết về nguy cơ có thể xuất hiện những dấu hiệu hạ glucose máu (nhịp tim nhanh, toát mồ hôi, run, hồi hộp, cảm giác đói, lo âu...). Để điều trị tăng huyết áp ở người tiểu đường, nên chọn các thuốc ức chế enzym chuyển dạng angiotensin.
Nitrat chống đau thắt ngực
Phân tích: Phối hợp với các thuốc chống tăng huyết áp có thể làm tăng nguy cơ hạ huyết áp, đôi khi dẫn đến sốc.
Xử lý: Theo dõi huyết áp trong khi dùng và khi ngừng một trong hai thuốc, đặc biệt chú ý đối với người bệnh cao tuổi.


Phenothiazin
Phân tích: Tăng tác dụng hạ huyết áp của các thuốc này. Hạ huyết áp là một tác dụng không mong muốn quan trọng của các thuốc an thần kinh dẫn xuất của phenothiazin.

Xử lý: Mặc dầu sotalol được kê đơn như một thuốc chống loạn nhịp tim, hơn là một thuốc hạ huyết áp; nếu cần phối hợp thuốc này vẫn phải tăng cường theo dõi huyết áp trong và khi ngừng điều trị một trong hai thuốc. Khi cần, hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp. Nhấn mạnh đến kế hoạch dùng thuốc và sự tuân thủ trong điều trị. Cần cảnh giác đặc biệt khi sử dụng ở người bệnh cao tuổi.
Procarbazin; thuốc ức chế MAO không chọn lọc
Phân tích: Dùng đồng thời hai thuốc này có thể dẫn tới những biến động quan trọng về huyết áp.
Xử lý: Các thuốc ức chế MAO hiếm khi được sử dụng, tương tác rất nhiều, do đó hiếm có những đơn ghi thuốc này, nên có ít nhận xét về cảnh giác thuốc. Cũng vẫn nên thận trọng sau khi ngừng thuốc, phải đợi một thời gian từ 2 đến 3 tuần lễ mới dùng các thuốc ức chế MAO.
Tacrin
Phân tích: Tác dụng gây chậm nhịp tim của tacrin có nguy cơ cộng thêm vào với tác dụng của các chất chẹn beta.
Xử lý: Nếu phối hợp thuốc này, phải theo dõi lâm sàng và điện tâm đồ đều đặn. Khuyên người bệnh báo cho bác sĩ khi có cảm giác khó chịu về tim.
Tetracosactid
Phân tích: Nguy cơ xuất hiện xoắn đỉnh khi phối hợp các thuốc này. Hạ kali máu, chậm nhịp tim, và khoảng QT dài đã có từ trước (chỉ nhận biết được trên điện tâm đồ) là những yếu tố tạo điều kiện xuất hiện xoắn đỉnh.
Xử lý: Nếu cần phối hợp giữa tetracosactid và sotalol, phải dự phòng hạ kali máu bằng tăng cường theo dõi, và kiểm tra điện tâm đồ. Khi có xoắn đỉnh, không dùng thuốc chống loạn nhịp. Khuyên người bệnh gặp lại bác sĩ khi thấy mệt mỏi, yếu cơ, chuột rút.
Theophylin hoặc dẫn chất
Phân tích: ức chế phosphodiesterase do theophylin và các dẫn chất của nó sẽ kéo theo kích thích các thụ thể beta adrenergic, do đó có tác dụng đối kháng.
Xử lý: Theo dõi tác dụng đối kháng có thể xảy ra khi bắt đầu, khi đang và khi ngừng điều trị. Hỏi người bệnh khi cấp phát lại đơn thuốc. Tương tác này đã được mô tả, nhưng còn cần thu thập thêm tài liệu. Bác sĩ kê đơn và người phát thuốc cần luôn luôn cảnh giác. Chuyển về Trung tâm cảnh giác thuốc những nhận xét thu thập được.
Thuốc an thần kinh khác nhau
Phân tích: Tăng tác dụng hạ huyết áp của các thuốc này.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, tăng cường theo dõi huyết áp trong khi điều trị, và khi ngừng một trong hai thuốc. Hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp khi cần. Nhấn mạnh đến kế hoạch dùng thuốc và tuân thủ điều trị. Cần đặc biệt cảnh giác khi sử dụng ở người bệnh cao tuổi.
Thuốc gây mê bay hơi chứa halogen
Phân tích: Có thể kéo dài tình trạng hạ huyết áp, vì làm mất phản xạ đáp ứng của tim do cảm ứng các thụ thể beta - adrenergic. Nhược điểm này có thể khắc phục bằng cách dùng dobutamin, dopamin hay isoproterenol... một cách rất thận trọng.
Xử lý: Bác sĩ gây mê phải theo dõi đầy đủ (máy theo dõi liên tục) để có thể can thiệp bất kỳ lúc nào.

Thuốc gây mê các loại
Phân tích: Tương tác tùy thuộc tác dụng đối với tim và gây chậm nhịp tim của một số thuốc chẹn beta.
Xử lý: Khi phải phẫu thuật, khuyên người bệnh thông báo cho bác sĩ gây mê biết các thuốc đã dùng.
Thuốc giãn mạch chống tăng huyết áp
Phân tích: Tăng tác dụng chống tăng huyết áp.
Xử lý: Cần hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp; xây dựng kế hoạch dùng thuốc và nhấn mạnh người bệnh phải tuân thủ. Khi bắt đầu điều trị, khuyên người bệnh đo (hay nhờ đo) đều đặn huyết áp cho tới khi đạt được cân bằng trong điều trị.
Thuốc kháng acid uống hoặc than hoạt tính
Phân tích: Thuốc kháng acid làm giảm hấp thu qua đường tiêu hoá và gây giảm tác dụng của thuốc phối hợp. Tương tác này xuất hiện khi dùng atenolol, metoprolol, propranolol.
Xử lý: Dùng thuốc kháng acid và thuốc phối hợp phải cách nhau ít nhất 2 giờ. Cần nhớ các thuốc kháng acid thường được dùng 1 giờ 30 phút sau bữa ăn, và ăn là nguyên nhân tăng tiết dịch vị.
Thuốc lợi tiểu giữ kali
Phân tích: Tăng tác dụng hạ huyết áp. Thường sotalol chỉ dùng làm thuốc chống loạn nhịp.
Xử lý: Cần phải hiệu chỉnh liều cho thích hợp; xây dựng một kế hoạch dùng thuốc, và yêu cầu người bệnh tuân thủ. Lúc bắt đầu điều trị, khuyên người bệnh đo (hay nhờ đo) huyết áp đều đặn cho đến khi có cân bằng trong điều trị.
Thuốc lợi tiểu thải kali
Phân tích: Nguy cơ xuất hiện xoắn đỉnh (rối loạn nhịp thất) khi phối hợp một thuốc lợi tiểu thải kali với thuốc chống loạn nhịp. Hạ kali máu, nhịp tim chậm và khoảng QT dài đã có từ trước (chỉ nhận thấy trên điện tâm đồ) là những yếu tố tạo điều kiện xuất hiện xoắn đỉnh.
Xử lý: Nếu cần phối hợp một thuốc lợi tiểu thải kali với thuốc chống loạn nhịp tim này, phải dự phòng hạ kali máu bằng cách bổ sung kali và khi
cần thì phải làm điện tâm đồ. Khi xuất hiện xoắn đỉnh, không dùng thuốc chống loạn nhịp. khuyên người bệnh gặp lại bác sĩ nếu thấy mệt mỏi, yếu cơ, chuột rút.

Thuốc nhuận tràng làm trơn
Phân tích: Thuốc nhuận tràng làm trơn dùng lâu dài có thể dẫn tới hạ kali máu, do đó tăng nguy cơ xuất hiện xoắn đỉnh khi phối hợp với sotalol. Hạ kali máu, nhịp tim chậm, khoảng QT dài đã có từ trước (chỉ nhận biết được trên điện tâm đồ) là những yếu tố tạo điều kiện xuất hiện xoắn đỉnh.
Xử lý: Phải theo dõi khi phối hợp thuốc này. Tốt nhất hoặc ngừng thuốc nhuận tràng, hoặc dùng các thuốc không gây xoắn đỉnh.
Thuốc nhuận tràng kích thích
Phân tích: Có nguy cơ xuất hiện xoắn đỉnh khi phối hợp các thuốc này. Giảm kali máu, nhịp tim chậm và khoảng QT dài đã có từ trước (chỉ nhận biết được trên điện tâm đồ) là những yếu tố tạo điều kiện xuất hiện xoắn đỉnh.
Xử lý: Tốt hơn hết là ngừng dùng thuốc nhuận tràng. Nếu cần phối hợp, phải dự phòng hạ kali máu thông qua tăng cường theo dõi, và theo dõi điện tâm đồ. Nếu xuất hiện xoắn đỉnh, không dùng thuốc chống loạn nhịp tim. Khuyên người bệnh gặp lại bác sĩ khi thấy mệt mỏi, yếu cơ, chuột rút.

Tương tác cần theo dõi: mức độ 1

Amphetamin hoặc dẫn chất
Phân tích: Tương tác dược lực; tăng tác dụng alpha adrenergic với các hậu quả như hạ huyết áp, nhịp tim chậm và có thể bloc tim.
Xử lý: Hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp và theo dõi chặt chẽ huyết áp. Khuyên người bệnh tự theo dõi huyết áp.
Dihydropyridin
Phân tích: Tăng tác dụng hạ huyết áp. Nhưng sotalol thường được dùng làm thuốc chống loạn nhịp tim hơn là thuốc chống tăng huyết áp. Có thể phối hợp dihydropyridin với các thuốc chẹn beta với điều kiện phải chọn đúng thuốc dihydropyridin, và có chỉ định đúng.
Xử lý: Hiếm khi sotalol được dùng làm thuốc chống tăng huyết áp, nhưng mục đích điều trị có thể là chữa đồng thời tăng huyết áp và loạn nhịp tim. Trong trường hợp này, cần lập kế hoạch dùng thuốc và yêu cầu tuân thủ. Khi bắt đầu điều trị, khuyên người bệnh đo (hay nhờ đo) huyết áp đều đặn cho đến khi có kết quả ổn định trong điều trị. Hiệu chỉnh liều lượng, nếu cần.
Indometacin hoặc dẫn chất pyrazol; salicylat; thuốc chống viêm không steroid
Phân tích: Giảm tác dụng chống tăng huyết áp. Các thuốc chống viêm không steroid ức chế tổng hợp ở thận prostaglandin gây giãn mạch và/ hoặc kéo theo giữ nước và natri. Có nguy cơ suy thận cấp ở người bệnh mất nước.
Xử lý: Phải lưu ý tương tác này khi kê đơn, đặc biệt với indometacin và các salicylat liều cao. đảm bảo cung cấp nước đầy đủ cho người bệnh. Theo dõi chức năng thận (độ thanh lọc creatinin). Xác định tính ổn định của huyết áp, đặc biệt khi bắt đầu điều trị. Khuyên người bệnh thường xuyên tự theo dõi huyết áp.
Thuốc chống trầm cảm ba vòng hoặc thuốc tương tự
Phân tích: Tăng tác dụng hạ huyết áp của các thuốc này. Hạ huyết áp là một tác dụng không mong muốn của các thuốc chống trầm cảm ba vòng.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, phải tăng cường theo dõi huyết áp trong và khi ngừng điều trị một trong hai thuốc. Hiệu chỉnh liều lượng khi cần. Nhấn mạnh về kế hoạch dùng thuốc và sự tuân thủ điều trị. Cần đặc biệt cảnh giác khi dùng ở người bệnh cao tuổi.
Thuốc gây mê barbituric
Phân tích: Dùng đồng thời các thuốc chống tăng huyết áp hay thuốc có thể gây hạ huyết áp với các thuốc gây mê barbituric có thể gây hạ huyết áp nặng.
Xử lý: Chỉ sử dụng các thuốc gây mê ở bệnh viện và có theo dõi người bệnh chặt chẽ. Khi khám trước phẫu thuật, bác sĩ gây mê phải lưu ý các tương tác nói trên để tính liều thuốc gây mê cần thiết.

Xem 31 lần

Bài viết mới

Châm cứu trong điều trị đau cột sống

Lượt xem:241 Điều trị cột sống

Châm cứu là một từ ghép của hai phương pháp riêng biệt của YHCT, gồm châm và cứu. Trong đó châm là phương pháp dùng kim châm nhỏ (hào châm) để châm vào các huyệt vị, còn cứu là dùng... Xem thêm

Gói điều trị đau cột sống do Thoái hóa, Thoát vị đĩa đệm bằng Kéo giãn, Điện châm, Vật lý…

Lượt xem:1289 Điều trị cột sống

Đáp ứng những khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới WHO và Hội nghiên cứu Đau Quốc tế IASP, Phòng khám Đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám cũng lấy phương châm không dùng thuốc là các phương pháp... Xem thêm

Điều trị thiểu năng tuần hoàn não bằng Đông y

Lượt xem:850 Tin y dược

Thiểu năng tuần hoàn não là một trong những bệnh lý liên quan đến não bộ. Bệnh nếu không được chữa trị kịp thời có thể gây nên biến chứng nguy hiểm. Hiện nay có rất nhiều phương pháp chữa... Xem thêm

Các chuyên đề bệnh

Có thể bạn quan tâm

098 934 2415

098 934 2415