Điều trị
  • Phòng khám 589 - Dịch vụ y tế uy tín hàng đầu tại Hà Nội !
Phòng khám Đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám Cơ sở y tế 098 934 2415
  • Khám và điều trị bệnh tại nhà
  • Đốt trĩ cao tần HCPT
  • Điều trị thoát vị đĩa đệm
  • Giảm 30% Gói khám sức khỏe định kỳ tổng quát
  • Điều trị bệnh lậu
1 2 3 4 5

Chấn Thương Ngực

Đánh giá bài này
(0 bình chọn)

 

I. ĐẠI CƯƠNG CHẤN THƯƠNG NGỰC

 

Chấn thương lồng ngực là loại tổn thương bao gồm cả chấn thương lồng ngực kín và vết thương ngực hở. về nguyên tắc, cả hai loại thương tổn này đều có cách điều trị giống nhau, nghĩa là phục hồi những rối loạn thăng bằng sinh lý hô hấp là chủ yếu và hàng đầu, còn thương tổn giải phẫu đứng hàng thứ yếu vì chỉ có định phẫu thuật rất hạn chế và chặt chẽ.

II NHỮNG TỔN THƯƠNG GIẢI PHẪU VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ

1. Gẫy xương sườn

Gẫy xương sườn là loại thương tổn rất hay gặp, thường là nhẹ và không để lại di chứng. Điều cốt yếu là phải tìm những thương tổn kèm theo với gãy xương sườn là gì, từ đó mới có cách xử trí thích hợp. Đối với gẫy xương sườn ở người già vì đau nôn không dám thở, nên dễ dẫn đến ứ đờm dãi, và xẹp phổi. Đối với gẫy xương sườn ở trẻ em, vì xương rất mềm, xốp, khó gẫy, do đó phải có một tác nhân rất mạnh mới có thể làm gẫy xương sườn được vì vậy thương tổn kèm theo trong lồng ngực thường là nặng... Đối với gãy xương sườn 7,8,9 cần chú ý tránh bỏ sót vỡ gan (bên phải) và vỡ lách (bên trái).
Nguyên tắc điều trị là làm giảm đau để nạn nhân không bị hạn chế hô hấp.
Tốt nhất là phong bế dây thần kinh liên sườn bằng xylocain ở gốc (cách đường giữa 3 khoát ngón tay). Không nên dùng băng dính to bản để cố định xương sườn gẫy, vì ỉàm như vậy sẽ gây hạn chế hô hấp.

2. Mảng sườn

Khi xương sườn gẫy 2 nơi trên một cung và 3 xương liên tiếp thì tạo thành 1 mảng sườn. Có khi chỉ gẫy một nơi còn phần kia là sụn sườn, người ta gọi là nửa mảng sườn, mảng này sẽ di động theo hình cánh cửa với sụn sườn là bản lề.
Mảng sườn có thể cố định do các đầu gãy cài vào nhau, có thể di động tiên phát do các đầu gầy không cài vào nhau, hay di động thứ phát do các đầu gẫy bật ra khi thay đổi áp lực đột ngột trong khoang màng phổi. Một mảng sườn nếu không di động sẽ dần dần thụt vào bên trong do áp lực âm tính của khoang màng phổi hút vào, để lại di chứng là hạn chế hô hấp.
Khi có mảng sườn di động cần nhanh chóng cố định lại bằng cách đặt cuộn băng vào vùng mảng sườn, rồi băng vòng quanh ngực cot đe mang sườn thụt vào không di động nữa, và chuyển ngay nạn nhân về bệnh viện để điều trị thực thụ.

Điều trị thực thụ bao gồm: hồi sức (truyền máu khi có tràn dịch màng phổi nhiều), hút đờm dãi, giải phóng khoang màng phổi (dẫn lưu máu và khí) và cố định mảng sườn.
Cố định theo 2 phương pháp chỉnh: cố định giải phẫu (xuyên đinh, kéo tạ liên tục, buộc chỉ thóp nẹp Judet) và cố định sinh lý (đặt nội khí quản, tiêm thuốc giãn cơ, thở máy). Tùy từng hoàn cảnh mà chọn những phương pháp thích hợp.

3. Tràn máu màng phổi

Máu chảy vào khoang màng phổi từ những nguồn sau: nhu mô phổi, mạch máu thành ngực, mạch máu trung thất.
Nếu số lượng ít có thể tự tiêu và không để lại di chứng, nếu nhiều thì gây chèn ép phổi không cho phổi nở lên, nhiễm khuẩn hay đông lại thành máu cục.
Phải hút ngay và hút hết ngay sau khi đã có chẩn đoán tràn máu màng phổi. Tốt nhất là đặt một ống dẫn lưu cỡ 28-32 Fr qua khoang liên sườn 5,6 đường nách giữa để hút liên tục. Thường chỉ sau 24 giờ là hết chảy và có thể rút ống dẫn lưu. Nếu thấy máu chảy không có xu hướng giảm đi (khoảng 300ml/giờ, trong 3 giờ liền) thì không nên điều trị bảo tồn nữa mà phải mở lồng ngực cấp cứu để cầm máu. Nếu chỉ bị tổn thương có hơn 1 giờ mà số máu qua ống dẫn lưu tới 500ml thì cũng phải mổ. ở trẻ con tất nhiên là không thể đợi cho tới khối lượng như trên mới quyết định mà phải xử trí nhanh hơn.

Trong hoàn cảnh không có phương tiện để dẫn lưu hút lièn tục thì mới làm chọc hút màng phổi.
Cần chụp X quang. Kiểm tra lồng ngực xem phổi có nở không, trong màng phổi đã hết máu chưa.

4. Tràn khí màng phổi

Không khí tràn vào màng khoang màng phổi do 2 nguồn: từ ngoài qua thành ngực và từ trong qua nhu mô hay khí phế quản bị rách.
Tràn khí màng phổi làm cho phối không nỏr lên được, trung thất bị đẩy sang bên đổi diện, khi tràn khí dưới áp lực nghĩa là càng ngày không khí căng tràn vào màng phổi do van 1 chiều, sẽ gây tình trạng khó thở dữ dội, nguy kịch, vì không những phổi bên bị thương không nở lên mà phổi bên lành cũng rất khó nở do trung thất bị đẩy chèn ép vào.
Khi cấp cứu phải bịt ngay vết thương thành ngực (nếu là vết thương ngực hở) và dùng một kim to có buộc đầu găng cao su đã cắt rách ở đầu, chọc ngay vào khoang liên sườn 2,3 giữa xương đòn rồi chuyển nạn nhân đi bệnh viện,
Cách điều trị tốt nhất là dẫn lưu màng phổi ở khoang liên sườn 2,3 giữa xương đòn (có thể ở khoang liên sườn 5,6 đường nách giữa) với 1 ống dẫn lưu cỡ 18-20 Fr. Hút liên tục ống dẫn lưu này. Nếu thấy khí căng ngày căng ít ra qua ống dẫn lưu, chụp ngực kiểm tra thấy phổi nở dần lên thì tiếp tục hút như vậy cho đến khi hết khí và phổi nở hết rồi mới rút ống dẫn lưu.
Nếu khí vẫn ra nhiều, phổi không nở lên, thì tăng áp lực hút lên (có thể tới 60-70cm H2O). Nếu phổi vẫn không nở, khí vẫn ra nhiều thì phải mở ngực để điều trị. Hai nguyên nhân chỉnh gây ra là: nhu mô phổi bị giập nát nhiều và vỡ khí phế quản.

5. Vết thương ngực hở

Vết thương ngực hở là loại vết thương gây thủng màng phổi lá thành, làm cho khoang màng phổi thông với không khí bên ngoài (Vết thương có thể không ở trên thành ngực, và lỗ thông thường có thể đã bịt kín).
Khi vết thương ngực còn đang hở sẽ gây nên 2 hội chứng: hô hấp đảo ngược và trung thât di động. Hai hội chứng này tác động lẫn nhau rất dỗ gây nên suy hô hấp và suy tuần hoàn, cần phải nhanh chóng bịt kín lỗ Vết thương để cắt đứt vòng luẩn quẩn này. Bịt kín tạm thời bằng băng hoặc nút Depage; nếu ở bệnh viện thì khâu kín. Sau dó phải dẫn lưu màng phổi vì trong màng phổi lúc này có tràn máu và tràn khí.

6. Vết thương ngực - bụng

Vết thương có thể xuyên từ ngực xuống bụng, hay ngược lại. Ngoài các tạng trong ngực và bụng bị tổn thương, thì chớ quên cơ hoành bị thủng.
Nguyên tắc điều trị là giải phóng khoang màng phổi (dẫn lưu màng phổi, hút máu và khí) rồi sau đó mới mổ bụng để sửa chữa thương tổn. Nếu thấy máu hay khí qua ống dẫn lưu nhiều (như phần trên đã nói) thì phải mổ ngực.
Không được quên khâu cơ hoành. ống dẫn lưu ổ bụng cũng phải kín, nếu không thì không khí sẽ qua ống đó lên khoang màng phổi qua chỗ khâu vết thương cơ hoành, ỉàm cho phổi khó nở lên được.

7. Xẹp phổi

Xẹp phổi là do khí quản bị tắc. Tắc là do đờm dãi ứ lại, do máu chảy vào hay do dị vật, bên cạnh đó còn có nguyên nhân quan trọng nữa là vì đau nên nạn nhân không dám thở mạnh, và không dám ho để tông đờm dãi ra ngoài.
Xẹp phổi rất hay gặp trong chảri thương ngực. Điều côt yếu là phải chẩn đoán sớm và đúng (dấu hiệu co kéo trôn phim chụp ngực, ngược với dấu hiệu đẩy do tràn khí màng phổi).
Điều trị bao gồm kích thích cho nạn nhân ho, nếu không ho được mới hút khí - phế quản.

III. NHỮNG CHỈ ĐỊNH MỔ NGỰC CẤP CỨU

Phần lớn những chấn thương lồng ngực với điều trị bảo tồn (dẫn lưu màng phổi, hồi sức) đều khỏi và ra viện mà không để lại di chứng gì quan trọng. Chỉ có một số rất ít (khoảng 5%) mới phải mổ ngực cấp cứu để sửa chữa những thương tổn giải phẫu bên trong.

1. vết thương toác rộng ở ngực

Thường là do hoả khí (mảnh bom, mìn) gây vết thương lớn ở ngực, lộ các tạng bên trong, dẫn đến rôi loạn hô hâp và tuần hoàn nghiêm trọng (hội chứng hô hấp đảo ngược và trung thâ't di động). Cần phải khâu ngay lại thành ngực sao cho kín sau khi đã sửa chữa các vết thương tổn bên trong, cắt lọc và dẫn lưu. Trên thực tê rất ít khi gặp loại tổn thương này, vì phần lớn nạn nhân đã chết trước khi đến bệnh viện.

2. Tràn máu màng phổi nhiều

 

Như trên đã nói, trước hết là dẫn lưu màng phôi, hút liẽn tục và truyên máu (khi cần). Nếu thấy lượng máu tiếp tục ra nhiểu (300ml/ giờ trong 3 giờ liền) tình trạng nạn nhân có thay đổi (bắt đầu có mạch nhanh, huyết áp tụt, khó thử và không nằm yên) thi không nen điều tri báo tôn nữa và phải mở ngưc đế cầm máu (khâu hay cắt phổi, cầm máu các mạch máu ở thành ngực).

3. Tràn khí màng phổi nhiều

Qua ống dẫn lưu, khí vẫn phì ra, dù đã tăng áp lực hút mặt khác chụp ngực kiểm tra thấy phổi không nơ lên! Có 2 nguyên nhân chỉnh: nhu mô phổi giập nát nhiều hoặc vỡ khí - phế quản. Nếu thấy có tràn khí vùng cổ và tràn khí trung thất trên X quang cân soi phê quản để xác định chỗ vỡ. Mở ngực câ'p cứu đổ khâu ỉại khí - phê quản hoặc cắt bò vùng phổi bị giập nát nhiều .

4. Vết thương tim

Tim bi tôn thương có thể do 2 nguyên nhân: chấn thương kín gây vỡ tim và vết thương tim do mảnh bom đạn hay vật nhọn đâm thủng.
Về lâm sàng có 2 hình thái: chèn ép tim cấp tính và tràn máu màng phôi nhiều hay chảy máu nhiều qua vết thương.

- Chèn ép tìm câp tính là một hội chứng gây ra do máu từ trong buông tim chảy vào màng tim, ỉàm cho áp lực trong màng tim ngày một tăng, ép quả tim lại, cán trở tim 11Ơ lên khi tâm trương, đến một lúc nào đó tim không nơ được và ngừng đập. Hội chứng này xảy ra trong vỡ tim do chấn thương ngực kín và trong vết thương tim, nhưng lỗ thủng màng tim đã bị bịt kín lại do máu cục. Những dấu hiêu lâm sàng như sau:

Bệnh nhân giãy giụa, tím tái, tĩnh mạch nổi căng, mạch nhanh nho, huyet áp tụt và kẹt, đo áp ỉưc tĩnh mạch trung tâm thấy rất cao, nghe tim có thể thấy tiếng tim mờ, soi X quang thấy tim co bóp yếu. Trên siêu âm thấy có tràn dịch màng tim. Chọc màng tim có máu (có khi máu này đông được, nhưng cần phải phân biệt được kim hút máu từ buồng tim).

- Hội chứng cháy máu nặng.

Đứng trước một vết thương vùng ngực, nhất là nằm trong tam giác giới hạn với một cạnh là xương ức, đỉnh là núm vú trái thì phải nghĩ ngay đến vết thương tim. Khi có vết thương tim, máu chảy vào màng tim, từ đó chảy vào màng phổi hoặc chảy tháng ra ngoài qua thành ngực. Dấu hiộu lâm sàng là tình trạng mất máu nặng, nạn nhân nhợt nhạt, mạch nhanh, huyết áp tụt, áp lực tĩnh mạch trung tâm giảm mạnh.
Đứng trước cả hai hội chứng trên, cần phải có thái độ xử trí đúng và kịp thời, nếu không nạn nhân sẽ chết, nhưng nếu xử trí sai (chẩn đoán nhầm là tim bị thương tổn, khi mổ ngực lại không có gì) thì tỷ lệ tử vong sẽ rất cao. Tuỳ hoàn cảnh cụ thể mà áp dụng một trong những biộn pháp sau đáy:
+ Chọc hút màng tim: chọc theo đường Marfan (mũi ức, nạn nhân nằm tư thế Fowler). Chọc hút màng tim nhằm chẩn đoán xác định vầ khi không có điều kiện mổ ngực thì hút máu màng tim, giúp cho tim đỡ bị chèn ép. Có thể chọc nhiều ỉần, và có khoảng gần 1/2 số nạn nhân là qua khỏi.
+ Cắt sụn sườn 5 bên trái: cắt một đoạn sụn sườn 5 trái, khoảng 2cm bằng gây tê, đi thẳng vào màng tim mà không qua màng phổi, giúp chẩn đoán xác định khi nghi ngờ một vết thương tim. Nếu không có máu trong màng tim thì khâu lại, nếu có máu thì gây mê, rạch rộng đường này đế điều trị thực thụ.
+ Mở ngực cấp cứu: thường dùng đường mổ ngực trái qua khoang liên sườn 5, đường rạch trước bên, nếu cần thì cắt ngang qua xương ức sang phải. Tốt nhất là đường rạch bổ dọc xương ức, nhưng đòi hỏi phải có kinh nghiệm và có dụng cụ. Dùng chỉ khâu vết thương từng mũi rời.

Xem 19 lần

Bài viết mới

Châm cứu trong điều trị đau cột sống

Lượt xem:202 Điều trị cột sống

Châm cứu là một từ ghép của hai phương pháp riêng biệt của YHCT, gồm châm và cứu. Trong đó châm là phương pháp dùng kim châm nhỏ (hào châm) để châm vào các huyệt vị, còn cứu là dùng... Xem thêm

Gói điều trị đau cột sống do Thoái hóa, Thoát vị đĩa đệm bằng Kéo giãn, Điện châm, Vật lý…

Lượt xem:1240 Điều trị cột sống

Đáp ứng những khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới WHO và Hội nghiên cứu Đau Quốc tế IASP, Phòng khám Đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám cũng lấy phương châm không dùng thuốc là các phương pháp... Xem thêm

Điều trị thiểu năng tuần hoàn não bằng Đông y

Lượt xem:760 Tin y dược

Thiểu năng tuần hoàn não là một trong những bệnh lý liên quan đến não bộ. Bệnh nếu không được chữa trị kịp thời có thể gây nên biến chứng nguy hiểm. Hiện nay có rất nhiều phương pháp chữa... Xem thêm

Các chuyên đề bệnh

Có thể bạn quan tâm

098 934 2415

098 934 2415