Điều trị
  • Phòng khám 589 - Dịch vụ y tế uy tín hàng đầu tại Hà Nội !
Phòng khám Đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám Cơ sở y tế 098 934 2415
  • Khám và điều trị bệnh tại nhà
  • Đốt trĩ cao tần HCPT
  • Điều trị thoát vị đĩa đệm
  • Giảm 30% Gói khám sức khỏe định kỳ tổng quát
  • Điều trị bệnh lậu
1 2 3 4 5

Chấn Thương Sọ Não Kín

Đánh giá bài này
(0 bình chọn)

 

Một chấn thương sọ não kín có thể gây nên những tổn thương, những biến chứng mà trong chẩn đoán và xử trí nhiều khi khó khăn, nếu không kịp thời dễ dần đến tử vong. Tuy nhiên, trong các loại tổn thương chỉ có một tổn thương đòi hỏi phải mổ cấp bách, đó là máu tụ trong hộp sọ. Nếu phát hiện được sớm máu tụ và mổ kịp thời thì trong nhiều trường hợp có thể cứu được nạn nhân.
Sau một chấn thương mạnh vào đầu hoặc do bị đánh hay ngã (tai nạn xe cộ, tai nạn lao động), do sập hầm, sập nhà trong chiến tranh V.V.. Nạn nhân không có vết thương hở ngoài da, nhưng xương sọ và não có thể' bị tổn thương nặng. Những tổn thương trên có thể đưn thuần nhưng trong nhiều trường hợp có xen kẽ nhiều tổn thương với nhau và trở nên rất nặng. Nên nhớ rằng những tổn thương ở não thường nguy hiểm. Vỡ xương sọ đơn thuần không quan trọng bằng những tổn thương ở não.


l. Vỡ xương sọ


Có hai loại chính: vỡ ở vòm sọ và vỡ lan xuống nền so

a. Vỡ vòm sọ: X quang thấy rõ đường nứt thẳng, cong, hoặc tách ba đường, cần phân biột với khớp xương sọ hoặc đường ngăn của mạch máu và xương sọ. Vỡ xương ở vòm sọ có nhiều kha nang gây tụ máu ngoài màng cứng, do đó cần đặc biệt chú ý theo dõi nạn nhân.

Lõm hoặc lún xương: ở trẻ em thường bị lún xương như lún quả bóng bàn. ở người lớn, có thể lớp trong xương sọ vỡ, chọc thủng màng cứng vào não gây giập não.

b. Vỡ xương lan xuống nền sọ: đường vỡ có thể lan xuống tầng trước, tầng giữa hay tầng sau của nền sọ. Tuỳ theo vị trí của đường vỡ có thể thấy ba triệu chứng sau đây:

- Bầm tím

+ ở mi mắt cả hai bên (kiểu đeo kính rầm), chứng tỏ có vỡ ở trần hố mắt do chấn thương ở vùng trán.
+ ở xương chũm: vỡ xương chũm

- Chảy nước não tuỷ:

+ ở mũi: vỡ lá sàng (tầng trước)
+ ở tai: vỡ xương đá

- Liệt các dây thần kinh ở nền sọ

+ Mù một mắt: liệt dây II (vỡ qua ống thị giác ở tầng trước).
+ Liệt dây VII ngoại biên (vỡ xương đá ở tầng giữa).
Vơ ở sọ thường không có chỉ định phẫu thuật, Đôi khi gặp máu tụ trong hố mắt đòi hỏi phải mổ vào hố mắt để lấy máu tụ. Khi có chảy nước não tuỷ ở mũi, ở tai, phải làm sạch lỗ mũi, lỗ tai và cho kháng sinh. Thường trong vài ngày nước não tuỷ ngừng chảy. Chỉ có chỉ định hàn đường rạn ở nền sọ và vá màng cứng khi nước não tiếp tục chảy nhiều ở ngày thứ hai, thứ ba, hoạc có nguy cơ viêm màng não mủ.

2.Chấn thương não

Một chấn thương sọ não nặng có thể gây nhiều tổn thương hoặc biến chứng trong não, mặc dù không có vỡ sọ kèm theo. Những tổn thương đó hoặc đơn thuần hoặc xen lẫn nhau. Trong điều trị có một biến chứng đòi hỏi phải mổ cấp bách, đó là máu tụ trong hộp sọ.
Dưới đây là những tổn thương thường gặp

a. Chấn động não: sau tai nạn (ngã, tai nạn xe cộ) nạn nhân nằm bất tỉnh, mô man hoàn toàn, không cựa quậy. Nhưng sau mươi mười lãm phút hồi tỉnh lại. Trong nhiều trường hợp tỉnh hoàn toàn, còn đau đầu, choáng váng, buồn nôn. Khi hỏi, không nhớ những sự việc đã xảy ra chung quanh tai nạn. Đó là chấn động não. Nạn nhân cần được theo dõi đặc biệt trong những giờ đầu, ngày đầu (cả ngày lẫn đêm). Trong một số trường hợp nạn nhân lại mê dần, tức là có khoảng tỉnh, có máu tụ, phái mổ ngay tức khắc.

b. Giập não: đây là tổn thương chủ yếu trong chấn thương sọ não nặng. Ta có thể thấy:

- Giập não trực tiếp ở nơi chấn thương: thường có mảnh xương lún xuổng não, não phòi ra ngoài, màng cứng bị rách. Nếu giập ở vùng vận động sẽ gây liệt chi bên đôi diện.

- Giập não bên đối diện với nơi chấn thương ở đầu: thường giập não ỏ nền thuỳ trán, thuỳ thái dương. Trong một sô trường hợp giập não gây chảy máu làm thành máu tụ dưới màng cứng. Giập não thường kèm theo phù não và làm cho tổn thương não nặng lên thêm.

- Giập não ở thân não: thường nạn nhân chết. Mổ tử thi thấy ở thân não có những ổ nhỏ lấm chấm máu.

Về lâm sàng, ngoài những triệu chứng thần kinh khu trú, thường thì sau chấn thương nạn nhân không tỉnh lại hoàn toàn hay mê nặng ngay từ đầu, giãy giụa nhiều có cơn có cứng, thở nhanh và thở rông lên, sốt cao, rồi chết.
Xử trí: nếu có lún xương phải nhấc xương lún và lấy não giập. Nếu có tụ máu dưới màng cứng thì đồng thời lấy máu tụ, lây cả não giập, trong trường hợp này tiên lượng thường nặng.

c. Phù não: phù não có thể lan toả toàn bộ não, hoặc lúc đầu khu trú quanh một tổn thương như giập não, rồi sau đó lan toả ra toàn bộ não. Đó là một tổn thương ít khi thấy đơn thuần. Thường do hậu quả của một tổn thương như giập não ở nền thuỳ trán, thuỳ thái dương, thân não. Một khối máu tụ nếu không lấy sớm sẽ gây chèn ép não và phù não.
Mổ tử thi thấy mặt ngoài não phẳng như quần áo là, mất hết các rãnh, các nếp nhăn.
Đây là một biến chứng nặng, nạn nhân hôn mê sâu dần, thở nhanh, thở rông. Huyết áp tăng dần rồi tụt xuống. Sôt cao 40-41°, rồi chết.
Để điều trị phù não, dùng huyết thanh ngọt ưu trương có dung dịch urồ, manitol 20-30%, các loại corticoid, lasilix. Mở sọ giải toả hai bên thái dương giúp cho não tạm thời bị phù thoát ra ngoài. Đây là một biến chứng điều trị khó và tử vong cao.

d. Xẹp não: đây là một biến chứng ít gặp. về lâm sàng cùng thấy những triệu chứng nặng như trong phù não. Thường chỉ chẩn đoán được khi mố tử thi hay khoan Thăm dò, thấy màng cứng nằm cách xa hộp sọ. về điều trị, có thể chọc dò não thất và bơm hơi hay huyết thanh để làm não giãn ra. Tiên lượng thường xấu.

e. Chảy máu dưới khoang nhện: thường sau một chấn thương nặng có thể gây ít nhiều giập não. Nếu máu chảy tương đối ít thì có thể hoà với nước não tuỷ mà không tụ lại thành khô'i máu tụ. Thường nạn nhân tỉnh táo, đau dầu nhiều, nôn, cổ cứng, có triệu chứng Kernig. nếu tỉnh táo trên một hai ngày thì có thể chọc dò nước não tuỷ để hút bớt nước não tuỷ có máu, đây cũng là một phương pháp điều trị. Cần chú ý: nếu nạn nhân đi vào hôn mê dần và nghi có máu tụ thì không nên chọc dò nước não tuỷ vì có nguy cơ tụt hạnh nhân tiểu não.

 

g. Máu tụ trong sọ: trong các loại tổn thương hoặc biến chứng cấp tính ở não, đây là một biến chứng đòi hỏi phải mổ kịp thời, cấp bách, mới có thể cứu sông được nạn nhân.


Có ba loại tụ máu:

- Máu tụ ngoài màng cứng: sau một sang chấn vào đầu (ví dụ: bị đánh), xương bị nứt rạn làm rách một nhánh động mạch hay tĩnh mạch màng não giữa, và gây chảy máu ngoài màng cứng. Máu đông thành bánh, trong đa sô" trường hợp thường nằm ở vị trí thái dương, đỉnh, trán. Rất hiếm gặp máu tụ ở vùng chẩm, tiểu não.

- Máu tụ dưới màng cứng: có hai loại

+ Cấp tính hay bán cấp: thường do một chấn thương nặng, đầu đập vào nền cứng (ngã cao, tai nạn xe cộ) gây giập não đôi diện với nơi bị chấn thương. Máu chảy ở nơi vỏ não bị giập (thường á nền thuỳ thái clưưng, thuỳ trán) rồi gây máu tụ. Máu tụ ở dưới màng cứng có tính chất lan toả rộng ở bán cầu não, máu loãng và hoà với nước não tuỷ, máu đỏ sẫm, kèm theo máu cục và não giập. Khi rạch vào màng cứng, trông thấy màu xanh tím, áp lực máu rất cáng trong não, chay vọt ra ngoài.
Nếu não giập nhiều mà máu tụ là thứ yếu thì liên lượng rất nặng. nếu máu tụ ỉà chủ yếu, não giập ít, mà mổ kịp thời thì có nhiều hy vọng cứu sông nạn nhân hơn.

+ Máu tụ mạn tính: xuất hiện sau vài tuần, đôi khi hăng tháng sau chấn thương. Chấn thương có khi rất nhẹ đến nôi nạn nhân không nhớ rõ nữa. Máu tụ do đứt một tĩnh mạch nhỏ đi từ não tới xoang tĩnh mạch dọc trên, máu chảy rất chậm, làm thành một khối máu tụ loãng, có bao dính vào vỏ não và mặt trong màng cứng, lan toả rộng khăp hầu hết phần trên bán cầu não, nhiều khi máu tụ cả hai bên bán cầu não.
Tiến triển lâm sàng chậm như một u não, và phần lớn nạn nhân không vào khoa câp cứu. Tiên lượng thường tốt, ngay cả với người già, vì sự điều trị phẫu thuật tưưng đối đơn gián.

- Máu tụ trong não: đây là một tổn thương tưưng đôi ít gặp hơn hai loại trẽn. Thường thấy ở thuỳ thái dương hay thuỳ trán kèm theo giập não và ít nhiều tụ máu dưới màng cứng. Máu chảy ở vỏ não bị giập thường gây máu tụ dưới màng cứng, nhưng trong trường hợp này máu chảy vào trong mô não và gây máu tụ ở đây.

3. Chẩn đoán máu tụ trong sọ

Chẩn đoán máu tụ cấp tính hay bán câ'p dựa vào một triệu chứng cơ bản, đó là tri giác xấu dần.
Ngay sau tai nạn, nạn nhân hôn mê trong 10-15 phút rồi tỉnh lại. Đến bệnh viện, nạn nhân trả lời minh mẫn nhưng quên sự việc đã xảy ra. Thường còn đau đầu và buồn nôn. Cần phải theo dõi tri giác nửa giờ một lần. Nếu sau vài giờ nạn nhân trả lời kém minh mẫn hoặc đi vào hôn mê nhanh chóng, tức là tri giác xấu dần. Chẩn đoán là máu tụ trong sọ, cần mổ ngay tức khắc. Nếu hôn mê ngay từ đầu, nhiều khi bị kích thích, giãy giụa thì không có chỉ định mổ. Có thể sau vài ngày nạn nhân tỉnh dần, nhưng cũng có thể hôn mê nặng hơn, mọi phản ứng kém hơn. Trong trường hợp này có chỉ định mổ, nhưng thường tiên lưựng rất xấu vì ngoài máu tụ (thường ở dưới màng cứng) còn có giập não nặng. Như vạy, dù trong trường hợp nào chẩn đoán cũng không dựa vào tình trạng của trí giác, mà phái dựa vào sự Tiến triển xâu dần của tri giác. Do đó ta thấy sự cân thỉêt phải theo dõi để so sánh tri giác của nan nhân từng nửa giờ hay một giờ để phát hiện máu tụ và xử trí kịp thời.

- Tiến triển xấu dần của tri giác như sau:

+ Tri giác hiểu biết (hỏi, thi hành mệnh lệnh): trước trả lời đúng, nhanh, sau trả lời chậm (như đang thiếp ngủ)
+ Tri giác tự động: khi bấu vào cạnh sườn nạn nhân có thể gạt nhanh dứng chỗ bấu hoặc gạt chậm không đúng chỗ hoặc không gạt, hoặc chỉ hơi nhích đầu chi.
+ Tri giác bản năng: khi cho uống, nạn nhân có thể nuốt nhanh hoặc nuốt chậm, hoặc không nuốt, hoặc sặc.

- Ngoài triệu chứng cơ bản nói trên, còn có thể thấy một số

triệu chứng phụ sau đây:
+ Giãn đồng tử một bên dần dần (90% có máu tụ bôn đó). nếu ngay sau chấn thương có giãn đồng tử ngay, tức là có tổn thương dây III thì không phải do máu tụ chèn ép.
+ Liệt nửa người đần dần (70-80% có máu tụ bên trong phía đôi diện)
+ Huyết áp tãng dần
+ Mạch chậm dần
Thường chấn đoán máu tụ dựa vào lâm sàng là chỉnh. Nếu có điều kiện chụp X quang, sẽ thấy đường vỡ sọ hoặc lún sọ. Trong những trường hợp nghi ngờ, có thể làm mạch não đồ. Không nên chọc dò tuy sống vì không giúp ích gì cho chẩn đoán máu tụ mà đôi khi còn nguy hiểm.

Mổ chậm là nguyên nhân của tử vong vì tiên lượng, chủ yêu dựa vào tình trạng của tri giác trước lúc mổ. Nếu trước mổ, nạn nhân còn trả lời được (tuy chậm) thì tỷ ỉệ tử vong là 20-30%. Nhưng nếu cũng ở nạn nhân đó ta phát hiện bệnh chậm, hoặc do dự, hoặc không có phương tiện chuyên chở sớm đến bệnh viện chuyên khoa, mà để không còn phản ứng khi tới băn mổ, thì tý lệ tử vong là hơn 90%.

4. Điều trị chấn thương sọ não kín

a. Nội khoa: nếu nạn nhân đến bệnh viện vẫn tỉnh táo thì chủ yếu theo dõi tri giác để phát hiện máu tụ. Nếu nạn nhân đau đầu, dùng aspirin hay hỗn hợp phenacetin, pyramìdon, caíein, luminal.

Nếu mê man, bị kích thích giãy giụa nhiều, thì có thể buộc chân tay nạn nhân vào thành giường, hoặc có người giữ. Cho những loại thuốc như natri bromur l-2g tiêm tĩnh mạch, hoặc gardenal, luminal tiêm bắp. Tránh dùng morphin, dolargan, vì gây ức chế hô hâ'p và giảm tri giác, khó theo dõi, cô" tránh dùng aminazin, hay clopro- mazin vì có tác dụng làm giảm tri giác.
Nếu sốt cao thì chườm đả, quạt lạnh. Nếu sốt do nhiễm khuẩn thì phải dùng kháng sinh.
Cho các loại vitamin, các dung dịch ưu trương chống phù não, và kháng sinh nếu cần.
Nuôi dưỡng nạn nhân bằng đường tĩnh mạch (huyết tương và máu nếu cần). Từ ngày thứ hai, nên đặt ông nuôi dưỡng bằng một ống đặt vào dạ dày cho đốn khi phản xạ nuốt trở lại hoàn toàn. Trong ngày thứ hai, dùng nước đường, từ ngày thứ ba dùng sữa.
Chú ý: chống loét đa vùng xương cùng bằng cách trở mình đều đặn cho nạn nhân trên giường đệm cao su. Cần đặt ống thông bàng quang cho những người mê man, tránh làm căng bàng quang hoặc đái dầm gây loét.

b. Ngoại khoa: nếu nạn nhân hôn mê, thở nhanh, khò khè thì nên mở khí quản sớm cho hút đờm dãi, thở oxy. Mở khí quản ngay trên giường bệnh nếu cần.

* Khoan thăm dò: có thể khoan từ 6 đến 8 lỗ ở hai bên bán cầu não, vào vùng thái dương, vùng trán, vùng chẩm, và dôi khi vào vùng tiểu não.

Bắt đầu khoan bên phía:

- Cạnh đường nứt rạn xương

- Bên cạnh đồng tử

- Bên đôi diện với bên liột nửa người

- Nơi vật cứng đập vào đầu (bị đánh)

- Đối diện với điểm đầu đập vào nền cứng (ngã): tổn thương bôn đối diện.

* Phẫu thuật máu tụ ngoài màng cứng: máu tụ ngoài màng cứng thường thấy ở vùng đầu bị chấn thương khi đẳu ở tư thế cô' định (thí dụ: bị đánh) có vỡ xương, khoảng tinh không rõ ràng.

Ta thấy ngay dưới lỗ khoan có máu cục phòi ra ngoài. Dùng một que đầu tù (trocart, stylet) thăm dò nhẹ cho đến khi đụng vào màng cứng. Thăm dò bôn phía sẽ cho thấy trung tâm máu tụ ở phía nào và gặm xương theo hướng đó. Nếu lỗ khoan vào vùng thái dương không cho thấy máu tụ thì nôn gặm thêm xuống nền sọ thăm dò thêm, tránh để sót.
Lấy máu tụ bằng thìa nạo hay thìa. Không nạo mạnh vào màng cứng, ở đó nôn đê lại một ít máu đông, tránh gây rỉ máu. Ớ điểm chảy máu nhiều, cầm máu bằng dao điện, clip, hay khâu một mũi chỉ vào màng cứng ở nơi rỉ máu rồi dùng huyết thanh nóng hay nước oxy già để cầm máu. Khâu 4-5 mũi chỉ vào màng cứng rồi đính vào lớp màng xương. Đạt một ống dẫn lưu rồi khâu lớp cơ và da.
Trong trường hợp không có đủ tiện nghi, nhưng nạn nhân hôn mê nhanh, không thể chuyển đi xa được, thì phẫu thuật viên, dù không chuyên khoa, cũng không còn cách nào khác là phải mổ ngay đê cứu sông người bệnh. Có thể dùng một cái khoan thợ mộc, dùng một cái banh khoẻ để mở rộng xương, lấy máu tụ giải toả não. Làm được chừng đó là có hy vọng cứu sông nạn nhân. Đôi khi máu chỉ rỉ chảy, nhưng nếu máu chảy nhiều mà không cầm đưực thì có thể buộc động mạch cảnh ngoài. Cũng có thể khâu một mũi chỉ vào màng cứng rồi kéo màng cứng dính vào da đã khâu tạm trên một ông dẫn lưu cao su. Sau đó chuyển đến một đơn vị phẫu thuật thần kinh hoặc mời phẫu thuật viên chuyên khoa đến mổ tiếp. Đôi khỉ làm như vậy máu cũng tự cầm lại. Máu mất đi có thể bù lại bằng truyền máu trong khi chờ đợi. Điều quan trọng là đã giái thoát được bộ não khỏi sự chèn ép trước khi đã quá muộn.

* Máu tụ dưới màng cứng: trong trường hợp máu tụ cấp tính hay bán câ'p, thường nạn nhân không có khoảng tỉnh rõ răng, hoặc ngay sau tai nạn đã hôn mê, bị kích thích, giãy giụa nhiều. Tổn thương ban đầu trước khi hình thành máu tụ là giập não đôi diện với nơi bị chấn thương. Tiên lượng thường xấu.

 

Khoan sọ thường làm ở vùng thái dương, trên cung zygoma hoặc trên cung lông mày để vào ngay nền thuỳ thái dương hay nền thuỳ trán (tránh bỏ sót). Sau lỗ khoan nếu thấy màng cứng màu tím xanh thì mở ngay, nưức máu đo thầm sẽ vọt ra ngoài và như vậy giải thoát não khỏi chèn ép căng sớm căng tốt. Gặm rộng xương sọ. Mở màng cứng hình sao. Dùng một chiếc banh dẹt và nhỏ ép nhẹ võ não khỏi màng cứng chung quanh, đồng thời dùng ống Nélaton nhỏ bơm rủa lấy máu cục và não giập ra ngoài. Cầm máu bằng dao điện, hoặc chỉt một miếng bông vào nơi chảy máu ở võ não. Đặt một ỗng dẫn lưu kín. Để hở màng cứng. Khâu cơ và da hai lớp.
Trong một số trường hợp hiếm, không thấy máu tụ, mà là một túi thanh dịch (hygToma), nước màu văng rơm hay trong là từ nước não tủy.

* Máu tụ trong não: trong đa số trường hợp, máu tụ trong não ở vùng thùy thái dương hay thùy trán. Mở màng cứng thấy ít máu tụ dưới màng cứng, nhiừig não giập và máu cục phòi từ trong mô não ra ngoài. Đôi khi chọc thăm dò trong mô não bằng một trocart hút ra một ít máu loãng lổn nhổn máu cục. Mở não và tìm máu tụ theo hướng đó. Cầm máu bằng chỉt bông tẩm huyết thanh nóng và bằng dao điện. Đặt một ống dẫn lưu kín rồi khâu da hai lớp.

 

Xem 34 lần

Bài viết mới

Châm cứu trong điều trị đau cột sống

Lượt xem:241 Điều trị cột sống

Châm cứu là một từ ghép của hai phương pháp riêng biệt của YHCT, gồm châm và cứu. Trong đó châm là phương pháp dùng kim châm nhỏ (hào châm) để châm vào các huyệt vị, còn cứu là dùng... Xem thêm

Gói điều trị đau cột sống do Thoái hóa, Thoát vị đĩa đệm bằng Kéo giãn, Điện châm, Vật lý…

Lượt xem:1289 Điều trị cột sống

Đáp ứng những khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới WHO và Hội nghiên cứu Đau Quốc tế IASP, Phòng khám Đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám cũng lấy phương châm không dùng thuốc là các phương pháp... Xem thêm

Điều trị thiểu năng tuần hoàn não bằng Đông y

Lượt xem:850 Tin y dược

Thiểu năng tuần hoàn não là một trong những bệnh lý liên quan đến não bộ. Bệnh nếu không được chữa trị kịp thời có thể gây nên biến chứng nguy hiểm. Hiện nay có rất nhiều phương pháp chữa... Xem thêm

Các chuyên đề bệnh

Có thể bạn quan tâm

098 934 2415

098 934 2415