Điều trị
  • Phòng khám 589 - Dịch vụ y tế uy tín hàng đầu tại Hà Nội !
Phòng khám Đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám Cơ sở y tế 098 934 2415
  • Khám và điều trị bệnh tại nhà
  • Đốt trĩ cao tần HCPT
  • Điều trị thoát vị đĩa đệm
  • Giảm 30% Gói khám sức khỏe định kỳ tổng quát
  • Điều trị bệnh lậu
1 2 3 4 5

Phòng Chống Mắt Hột

Đánh giá bài này
(0 bình chọn)


I.       ĐỊNH NGHĨA
Mắt hột là một viêm kết mạc đặc biệt, lây lan, mạn tính do một loại tác nhân nằm trong ranh giới giữa virus và vi khuẩn gọi là Chlamydia Trachomatis thể hiện trên lâm sàng bằng thẩm lậu hột, nhú gia và thường kết thúc bằng sẹo.
II.      ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH MẮT HỘT Ở VIỆT NAM
1.       Tính chất phổ biến
Các cuộc điều tra cơ bản những năm bắt đầu tổ chức công tác phòng chống bệnh mắt hột cho thấy tỷ lệ bệnh mắt hột hoạt tính rất cao, ở khắp mọi nơi (từ 50 - 80%).
Sau ba mươi năm tổ chức phòng chống bệnh mắt hột, tỷ lệ bệnh mắt hột đã giảm xuống một cách rất đáng kể. Các cuộc phúc tra  ở các vùng được chữa mắt hột cho thấy tỷ lệ hoạt tính chỉ còn 25
-         30%. Đặc biệt hình thái lâm sàng ngày càng nhẹ bớt đi.
2.       Tính chất trầm trọng
Trước đây, bệnh mắt hột rất trầm trọng ở nước ta vì hay bị bội nhiễm do các vi khuẩn thông thường làm cho mắt hột hay gây
biến chứng như lông quặm, màng máu bội nhiễm, loét giác mạc, có thể dẫn đến mù loà. Mắt hột trong nhiều năm qua đã là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà ở nước ta. Trong các biến chứng thì lông quặm là biến chứng phổ biến nhất (trên dưới 70% trên các bệnh nhân mắt hột).
Chính vì vậy mà mắt hột đã trở thành và vẫn tồn tại như là một bệnh có tính chất xã hội ở nước ta. Nó ảnh hưởng sâu sắc đến sinh hoạt, đến học tập, đến lao động. Nó đòi hỏi chúng ta phải tập trung mọi lực lượng, mọi công sức, mọi đoàn thể, và toàn ngành y tế trong công tác phòng chống.
III.     PHÂN LOẠI BỆNH MẮT HỘT

Ngày nay, hầu hết các nước còn mắt hột, áp dụng bảng phân loại của Tổ chức y tế thế giới (OMS) dựa trên nền tảng của bảng phân loại gốc của MacCallan và có thêm nhiều ký hiệu để đánh giá được mức độ của các tổn thương cả trên kết mạc và trên giác mạc.
Chúng ta ngày càng có nhiều trao đổi với các chuyên viên mắt hột trong Tổ chức Y tế thế giới (Mỹ, Nhật, Ngaf Pháp) nên cũng áp dụng bảng phân loại này.
IIIA. Phân loại của OMS
Chia bệnh mắt hột ra làm 5 thời kỳ
1.       Bệnh mắt hột nghi ngờ (Trachoma dubium - Tr ?)
Chưa đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán mắt hột trên lâm sàng
2.       Tr I: Mắt hột ở giai đoạn sơ phát
Chủ yếu là tiền hột và hột non ở kết mạc mi trên hoặc bờ trên của sụn, hoặc cùng đồ trên.
3.       Tr II: Mắt hột ở giai đoạn toàn phát
-         Hột phát triển to, chín, dễ vỡ trên khắp vị trí của kết mạc, cả mi trên và mi dưới. Mi dưới thường nhẹ hơn mi trên
-         Có thể thấy rõ thường trên giác mạc (hột, màng máu) bằng mắt thường, có đeo kính lúp hai mắt.
-         Qua kính hiển vi chắc chắn thấy màng máu.
4.       Tr III: Mắt hột ở thời kỳ tiền sẹo
Đây là thời kỳ xen kẽ giữa các tổn thương tiến triển (hột - thẩm lậu - nhú gai) và tổn thương thoái triển (sẹo) của bệnh mắt hột.
5.       Tr IV: Mắt hột đã hoàn toàn làm sẹo: hết các tổn thương tiến triển
Chú thích
TrI - Trll - TrIII là các thời kỳ hoạt tính của bệnh mắt hột - đòi hỏi phải điều trị đặc hiệu: tích cực và liên tục cho đến khi chuyển hẳn sang Tr IV.         
IIIB.       Phân loại của Việt Nam
Ta chia bảng phân loại của OMS ra làm hai bảng phân loại:
a.       Bảng phân loại áp dụng cho các tuyến tỉnh, có thể phục vụ cho các tài liệu nghiên cứu khoa học và trao đổi với nước ngoài.
b.       Một bảng phân loại đơn giản, áp dụng cho tuyến cơ sở, cho các cán bộ y tế phụ trách chàm sóc mắt ban dầu. Bảng phân loại này không cần đánh giá các tổn thương trên giác mạc.
IV.      LÂM SÀNG BỆNH MẮT HỘT
1.       Tr I
Mắt hột ở thời kỳ Tr I chủ yếu được phát hiện qua các đợt điều tra cơ bản ở các lớp mẫu giáo, vỡ lòng và các trường phổ thông.
ở những nơi nào còn tỷ lệ hoạt tính cao thì tuổi mắc bệnh lại thấp 1, 2 tuổi đã có mắt hột.  
Ngược lại, ở nơi nào mắt hột hoạt tính thấp, ít bội nhiễm, thì tuổi mắc bệnh lại cao thêm (2, 3 tuổi). Dấu hiệu hầu như độc nhất là sự xuất hiện của các hột nhỏ (còn gọi là hột non trong cùng đồ) hoặc tiên hột (trên kết mạc sụn mi trên). Khi lộn mi trên của các em nhỏ, ta thường thấy qua kính lúp, với ánh sáng đầy đủ, các tiền hột màu vàng nhạt, chưa nổi rõ lên khỏi bình diện kết mạc. Hột bao giờ cũng xuất hiện trên nền của thẩm lậu kết mạc, làm cho các mạch máu bị che lấp.
Trên vùng bờ mi của kết mạc sụn mi ta thấy một số hột lăn tăn, mọc thành một dãy, đục lờ. nếu bộc lộ cùng đồ, bằng một kỹ thuật đơn giản, ấn mạnh vào nhãn cầu qua mi dưới bằng một ngón của một bàn tay, bệnh nhân cố nhìn xuống dưới đồng thời lộn mi trên, ta sẽ thấy ở sâu trong cùng đồ, có một số hột non nổi lên khá rõ.
Đặc biệt ở Tr I chưa có hột nào vỡ được, và hoàn toàn chưa có sẹo.
2.       Tr II
Đây là thời kỳ toàn phát của bệnh mắt hột.
Hột ở các vị trí phát triển nhiều, trong khi đó vẫn tiếp tục có một số hột mới xuất hiện
Trên kết mạc sụn mi, trên bờ trên của sụn, trong cùng đồ, thấy xuất hiện nhiều hột to, chín mọng, đục lờ, có nhiều hột dính sát, đúc nhập vào nhau.
Đặc điểm của các hột chính già này là rất dễ vỡ khi ta dùng một lam kính ấn nhẹ vào các hột đó. Hột vỡ tiết ra một chất nhầy đặc biệt. Các hột vỡ ra sẽ được thay thế bằng sẹo.
Đôi khi có thể qua kính lúp phóng đại cũng đã thấy được cái sẹo nhỏ trên kết mạc sụn mi trên. Trên giác mạc, có thể bằng mắt thường, đeo kính lúp hai mắt cũng có thể thấy được hột trên giác mạc, thấy màng máu.
Đặc biệt trước đây, ở các vùng có bệnh mắt hột nặng thì ngay ở Tr II, cùng với các sẹo xuất hiện trên kết mạc sụn mi trên, còn có thể thấy được sẹo trên cực trên của giác mạc, như những lõm hột, hoặc những răng cưa của một con tem.
3.       Tr III
Đây là thời kỳ tiền sẹo
Phần lớn các hột đã vỡ ra, đã được thay thế bằng sẹo, nhìn thấy rõ bằng mắt thường. Tuy vậy vẫn còn có thể tồn tại một số ít hột, và đặc biệt còn thẩm lậu.
Thời kỳ này kéo dài hàng chục năm, nếu không điều trị thật tích cực.
Thời kỳ này cũng là thời kỳ có biến chứng lông quặm, loét giác mạc     .
4.       Tr IV
Mắt hột đã hết yếu tố hoạt tính. Trên kết mạc cũng như trên giác mạc chỉ còn tồn tại yếu tố duy nhất là yếu tố sẹo.
V.       CHẨN ĐOÁN MẮT HỘT TRÊN LÂM SÀNG
Trên thực địa, chúng ta không có điều kiện làm các xét nghiệm để chẩn đoán bệnh mắt hột. Chúng ta cũng không có phương tiện máy móc quang học hiện đại như máy siêu hiển vi. Chúng ta chỉ có thể chấn đoán bệnh mắt hột dựa vào phương tiện của kính lúp hai mắt. Vì vậy phải dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán do tổ chức y tế thế giới nêu lên những năm gần đây nhất.
Muốn chẩn đoán bệnh mắt hột khi tiến hành khám bệnh hàng loạt trên thực địa phải ít nhất có hai trong các dấu hiệu sau đây:
1.       Hột trên kết mạc sụn mi trên
2.       Hột hoặc di chứng của hột trên giác mạc
3.       Màng máu chủ yếu khu trú ở cực trên
4.       Sẹo đặc hiệu, trên kết mạc.
Chúng tôi thống nhất với điểm bổ sung của các chuyên viên mắt hột trong tiểu ban của Tổ chức y tế thế giới khi nhận định rằng:
ở những nơi còn có đau mắt hột lưu hành mạnh (như ở Việt Nam chúng ta ) thì một tiêu chuẩn cũng đủ để chẩn đoán mắt hột.
Tiêu chuẩn ấy trên các trẻ em chỉ là Hột (ở thời kỳ Tr I) vì trên các em nhỏ (1-5 tuổi) chưa có hột hoặc lõm hột trên giác mạc, cũng như chưa có sẹo.
IV.      ĐIỀU TRỊ BỆNH MẮT HỘT
1.       Cần điều trị cho những ai ?
-         Nếu chúng ta có đầy đủ thuốc đặc hiệu thì ta điều trị cho cả bệnh nhân còn mắt hột hoạt tính ở tất cả các lứa tuổi.
-         Nếu chúng ta chưa đủ thuốc điều trị, thì phải tập trung điều trị ưu tiên cho các lứa tuổi nhỏ từ vườn trẻ, mẫu giáo, đến lứa tuổi học sinh phổ thông cấp I - II, là lứa tuổi dễ mắc bệnh mắt hột nhất.
-         Hiện nay có nhiều xã đã và đang có kế hoạch thanh toán bệnh mắt hột, thì chúng ta cần tập trung thuốc để điều trị cho toàn dân.
2.       Nguyên tắc điều trị
-         Nếu điều trị sớm, thì bệnh có thể khỏi nhanh, để lại các sẹo mỏng, mịn, không cần các phương pháp cơ giới, và không gây biến chứng lông quặm.
-         Cần kết hợp điều trị và phòng bệnh, tăng cường vệ sinh phòng bệnh, cải thiện môi trường xung quanh.
-         Đối với những trường hợp nghi ngờ mắt hột, nếu không đủ thuốc đặc hiệu thì chỉ cần tra các thuốc sát khuẩn, chống bội nhiễm, mắt hột có thể tự khỏi.
-         Điều trị mắt hột ngày nay chỉ cần dùng thuốc đặc hiệu tra mắt. Rất hãn hữu phải dùng đến phương pháp cơ giới. Ví dụ: cần chữa bệnh cho khỏi nhanh, chuẩn bị cho người có mắt hột hoạt tính đi lao động hợp tác nước ngoài.
3.       Các thuốc đặc hiệu
a.       Sulfamid:
-         Sulfacylum 20% hoặc 10%. Tra ngày 2 lần, liên tục từ 3 - 6 tháng.
-         S.M.P (Sulfametoxypyridazin) 10%. Tra ngày 1 lần (vì là thuốc chậm tiêu) từ 3 - 6 tháng.
b. Kháng sinh
Thuốc tra cloramphenicol 0,4%: thuốc ít có tác dụng đặc trị, chủ yếu chống các vi khuẩn gây bội nhiễm. Tra ngày 1 - 2 lần, trong những ngày không dùng kháng sinh đặc hiệu loại tetracyclin khi áp dụng phác đồ gián đoạn.
4.       Các phác đồ điều trị bệnh mắt hột bằng mỡ tetracyclin 1%
a.       Tra mỡ tetracyclin 1% liên tục, ngày một lần buổi tối trong 3 - 6 tháng.
b.       Tra mỡ tetracyclin 1% gián đoạn, ngày 1 lần buổi tối trong 10ngày/1tháng/ 6 tháng. Những ngày không tra thuốc mỡ thì tra cloramphenicol 0,4% hoặc Thimerosal 0,03% ngày 1 lần.
5.       Phòng bệnh mắt hột
Công tác phòng bệnh mắt hột được dựa trên cơ sở các thu hoạch mới đây nhất về dịch tễ học của bệnh.
Để đề phòng bệnh mắt hột một cách có hiệu quả, cần cắt đứt được các khâu trung gian truyền bệnh, cũng như dập tắt các ổ lây trong các gia đình, khi các em nhỏ lành bệnh vẫn sống chung với các em khác đang có mắt hột hoạt tính. Một khâu trung gian truyền bệnh mà ta có thể can thiệp vào là tổ chức diệt ruồi, có khả năng bay từ mắt các em có bệnh, có nhiều dử mắt, rồi đậu sang mắt các em nhỏ khác còn lành bệnh. Ruồi có thể bay xa hàng trăm mét để truyền bệnh.
Những năm trước, khoa mắt hột Viện mắt trung ương đã tiến hành có kết quả tốt phòng bệnh mắt hột bằng phương pháp rửa mắt buổi sáng bằng khăn mặt vò xát xà phòng (xà phòng thơm thì càng tốt), lúc đầu có thể cay mắt song những ngày sau quen dần. Biện pháp rửa mặt hàng ngày bằng khăn mặt vò xà phòng có tác dụng chắc chắn là chống được bệnh đau mắt hột.
Ngoài ra, việc tuyên truyền giáo dục rộng rãi trong nhân dân nhất là ở vùng nông thôn còn nhiều mắt hột hơn ở thành thị tăng cường ý thức vệ sinh phòng bệnh cá nhân và tập thể, vận động nhân dân sử dụng nước giếng trong, dùng nước riêng, chậu riêng tổng vệ sinh đều đặn hàng tuần, góp phần quan trọng trong công tác phòng chống bệnh mắt hột.
Ngày nay, công tác phòng chống bệnh mắt hột đã được đưa về tận tuyến cơ sở, với việc chăm sóc mắt ban đầu do Tổ chức y tế thế giới nêu lên.
Đồng thời với việc phòng chống bệnh mắt hột một vấn đề khác được nằm trong khuôn khổ lớn hơn, tức là công tác phòng chống mù loà. Không phải chúng ta chỉ đề ra phòng chống bệnh mắt hột mà còn phải tích cực phòng chống các bệnh hay gây mù khác như bệnh thiếu vitamin A, glôcôm, đục thể thuỷ tinh, v.v...

Xem 115 lần

Bài viết mới

Phân biệt huyết áp thấp, thiểu năng tuần hoàn não, rối loạn tiền đình

Lượt xem:1287 Tin y dược

Để tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân và người nhà, phòng khám tổ chức khám và điều trị rối loạn tiền đình, thiếu máu não (thiểu năng tuần hoàn não) tại nhà. Xem thêm

Khám sức khỏe định kỳ, cần khám những gì?

Lượt xem:1213 Tin y dược

Khám sức khỏe định kỳ là việc làm quan trọng và cần thiết. Hiện nay, nhiều người đã nhận thức sâu sắc và rất chú trọng vấn đề này. Tuy nhiên, nhiều người thường băn khoăn khám sức khỏe định... Xem thêm

Thông báo lịch nghỉ tết nguyên đán 2019

Lượt xem:725 Tin Phòng khám 589

1. Thời gian nghỉ tết: từ ngày Chủ nhật 3/2/2019 đến hết ngày 14.2.2019 (tức ngày 29/12 đến 10/1 âm lịch) 2. Thời gian làm việc trở lại: ngày 15/2/2019 (tức ngày 11/1 âm lịch) Xem thêm

Các chuyên đề bệnh

Có thể bạn quan tâm

098 934 2415

098 934 2415