Điều trị
  • Phòng khám 589 - Dịch vụ y tế uy tín hàng đầu tại Hà Nội !
Phòng khám Đa khoa 589 Hoàng Hoa Thám Cơ sở y tế 098 934 2415
  • Khám và điều trị bệnh tại nhà
  • Đốt trĩ cao tần HCPT
  • Điều trị thoát vị đĩa đệm
  • Giảm 30% Gói khám sức khỏe định kỳ tổng quát
  • Điều trị bệnh lậu
1 2 3 4 5

Viêm Loét Giác Mạc

Đánh giá bài này
(0 bình chọn)


lóet giác mạc còn là một bệnh phổ biến đối với chúng ta vì các bệnh nhiễm khuẩn vẫn chiếm tỷ lệ cao trong bệnh học Việt Nam, có tính chất cấp cứu và có thể gây mù nếu không được xử lý kịp thời.


I.       TRIỆU CHỨNG VIÊM LOÉT GIÁC MẠC


Thông thường mắt bị loét khởi đầu bằng các chấn thương ngoại lai (bụi, dị vật trong công - nông nghiệp) làm xước hàng rào biểu mô, và do các tác nhân ở ngoài được đưa vào, gây loét giác mạc.
Dấu hiệu chức năng đáng lưu ý là sợ ánh sáng, co quắp mi và nhất là đau nhức trong mắt (loét càng nông, càng đau nhức nhiều) thị lực giảm sút nhanh chóng.
Khám thực thể: ta thấy có cương tụ quanh rìa, màu đỏ tím Khám Vết loét ta thấy trung tâm Vết loét lõm xuống, có bờ rõ ràng xung quanh có thẩm lậu thành vành đục lờ. Tra Fluorescéine thấy loét bắt màu rõ, và có nhiều hình thái khác tùy theo tác nhân gây bệnh.
Ví dụ:
1.       loét do vi khuẩn: đặc biệt vi khuẩn gây mủ xanh, phát triển nhanh chóng trên cả diện, và vào cả nhu mô giác mạc gây hiện tượng hoại tử nhanh chóng từ 48 đến 72 giờ. loét giác mạc mủ xanh thường xuất hiện vào ngày mùa, trong các vụ gặt lúa người lao động bị hạt thóc, bụi lúa bắn vào mắt. Dù có lấy được bụi dị vật hay không, vi khuẩn gây mủ xanh cũng có khả năng gây loét hoại tử giác mạc.

2.       loét giác mạc do nấm: ngày càng được chẩn đoán dễ hơn trên lâm sàng, và nuôi cấy cũng phát hiện được nhiều loại nấm gây bệnh.
Dị vật gây loét chủ yếu là các loại mảnh que, mảnh củi gây xước và loét giác mạc. Khởi đầu là các diện loét khô không gây hoại tử, nổi lên khỏi diện giác mạc, bao quanh là một vành thẩm lậu. Có thể lấy một que vô khuẩn nậy lấy ổ khuẩn và đem nuôi cấy sẽ thấy được loại nấm nào gây bệnh. Nếu không có điều kiện nuôi cấy, có thể soi tươi cũng phát hiện được xem tác nhân có phải là nấm không.
3.       loét giác mạc do virus herpes: những năm gần dây, virus này rất phổ biến trên bệnh nhân của chúng ta. Nó đã trở thành một trong những nguyên nhân gây mù trên giác mạc. Nó còn được đặc trứng bởi tính chất tái phát nhiều lần.
loét giác mạc do virus herpes có rất nhiều hình thái lâm sàng:
-         Hình thái có loét, bắt màu Fluorescéine (+) là hình thái dễ chẩn đoán nhất. Đó là hình thái cành cây, chân rết, hoặc hình thái dạng amip.. Tìm cảm giác giác mạc thì thấy giác mạc gần như mất hoàn toàn cảm giác.
-         Hình thái không loét là hình thái viêm giác mạc hình đĩa, trung tâm giác mạc có một vành tròn, đường kính từ 6-8 mm. Nếu có điều kiện soi kính hiển vi ở các phòng nhãn khoa tỉnh, sẽ thấy bề dày của giác mạc hình đĩa tăng lên gấp rưỡi, gấp đôi bình thường.


II.      TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG VIÊM LOÉT GIÁC MẠC


Tiến triển của loét giác mạc phụ thuộc vào việc điều tri kịp thời hay quá muộn, và nhất là vào tác nhân gây bệnh. 
Đối với loét do trực khuẩn mủ xanh thì bệnh nhân tiến triển cực nặng, nhanh chóng gây hoại tử thủng giác mạc.
Đối với nấm, tiến triển cũng nặng, vì dễ có nhiễm khuẩn thứ phát.
loét do virus nặng vì tính chất tái phát. Sau mỗi đợt tái phát tổn thương giác mạc lại nặng thêm, thị lực lại giảm sút thêm.


III.     XỬ TRÍ VIÊM LOÉT GIÁC MẠC


1.       Phòng bệnh
Ngày mùa, đập thóc, đập lúa cần đeo kính bảo vệ mắt. Cần trang bị lớp nhựa trong ở trước máy tuốt lúa (đeo kính cho máy). Sau khi lấy bụi, dị vật trong mắt cần tra Argyrol 10% hoặc thuốc đo 2%; theo dõi bệnh nhân ít nhất 3 ngày. Khi thấy vết loét xuất hiện chuyển ngay bệnh nhân lên tuyến huyện, tuyến tỉnh để xử trí bấng kháng sinh đặc hiệu.
2.       Điều trị
-         Đối với loét do nấm: nếu có, dùng kháng sinh đặc hiệu (mỡ Pimaíuicin 1%); nếu không có, chấm lugol trên vết loét.
-         Đối với loét do herpes: dùng các loại thuốc chuyển hoá. Đó là thuốc đặc hiệu nhất vì không có kháng sinh chống virus
-         Đối với loét do trực khuẩn mủ xanh: ta có kháng sinh đặc hiệu. Đó là gentamycin tiêm dưới kết mạc, kết hợp với tra thuốc này nhiều lẫn và tiêm toàn thân.
-         Về đông y: dùng lá rấp cá, có tác dụng đặc hiệu. Ta có thể dùng dưới hình thức giã lá đặp ngoài mi, hoặc thuốc mỡ tra mắt.

Xem 156 lần
Cùng chủ đề này Viêm Kết Mạc »

Bài viết mới

Phân biệt huyết áp thấp, thiểu năng tuần hoàn não, rối loạn tiền đình

Lượt xem:1971 Tin y dược

Để tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân và người nhà, phòng khám tổ chức khám và điều trị rối loạn tiền đình, thiếu máu não (thiểu năng tuần hoàn não) tại nhà. Xem thêm

Khám sức khỏe định kỳ, cần khám những gì?

Lượt xem:1325 Tin y dược

Khám sức khỏe định kỳ là việc làm quan trọng và cần thiết. Hiện nay, nhiều người đã nhận thức sâu sắc và rất chú trọng vấn đề này. Tuy nhiên, nhiều người thường băn khoăn khám sức khỏe định... Xem thêm

Thông báo lịch nghỉ tết nguyên đán 2019

Lượt xem:892 Tin Phòng khám 589

1. Thời gian nghỉ tết: từ ngày Chủ nhật 3/2/2019 đến hết ngày 14.2.2019 (tức ngày 29/12 đến 10/1 âm lịch) 2. Thời gian làm việc trở lại: ngày 15/2/2019 (tức ngày 11/1 âm lịch) Xem thêm

Các chuyên đề bệnh

Có thể bạn quan tâm

098 934 2415

098 934 2415